Hướng Đến Sự Phục Hồi Chiều Kích Cánh Chung Của Tích Thánh Thể

Trong những năm gần đây, sự hiểu biết của Kitô giáo về bí tích Thánh Thể đã trở nên phong phú, đặc biệt với sự tái khám phá và nhấn mạnh đến chiều kích cánh chung của mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Vì khi cử hành bí tích Thánh Thể
 
 
Hướng Đến Sự Phục Hồi Chiều Kích
Cánh Chung Của Bí Tích Thánh Thể

 
Phaolô Vũ Chí Hỷ SSS
 
 
 
Dẫn Nhập

Trong những năm gần đây, sự hiểu biết của Kitô giáo về bí tích Thánh Thể đã trở nên phong phú, đặc biệt với sự tái khám phá và nhấn mạnh đến chiều kích cánh chung của mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Vì khi cử hành bí tích Thánh Thể, Giáo Hội “tưởng niệm sự chết và phục sinh của Chúa mình, biến cố trung tâm này của ơn cứu độ thực sự trở nên hiện tại và như vậy, công trình cứu độ của chúng ta được thực hiện.”  Chính trong bối cảnh ấy, chúng ta sẽ khảo sát những nội dung chính yếu và triển khai sức hình thành của việc cử hành Thánh Thể trong đời sống Kitô hữu, cũng như tầm quan trọng mang ý nghĩa đại kết, xã hội, chính trị và đạo đức của bí tích ấy trong viễn cảnh cánh chung.

Có thể nói Thánh Thể là trung tâm của đời sống của Giáo Hội, bởi vì khi cử hành hy lễ tạ ơn, Giáo Hội tưởng niệm và công bố Đức Kitô vừa như là hồng ân trong hiện tại vừa như là lời cầu nguyện và niềm khao khát mong đợi ngày Người lại đến. Thật ra, thái độ sống tích cực hướng về ngày cánh chung đó cũng là niềm hy vọng vào tương lai trong kinh nghiệm tôn giáo của cộng đoàn Kitô hữu thời sơ khai. Tân Ước làm chứng về kinh nghiệm này với một loạt biến cố các bữa ăn trong cuộc đời và sứ vụ của Đức Giêsu, được mô tả như là việc “ăn uống trong Nước Thiên Chúa”.  Vì thế nghi thức ăn bánh và uống rượu trong bàn tiệc Thánh Thể không chỉ đơn thuần là việc tưởng nhớ Đức Kitô, nhưng còn là dự kiến về ngày trở lại của Người, như thông phần trước vào sự hoàn kết của những công trình mà Thiên Chúa sẽ thực hiện cho thế giới và nhân loại.

Bí tích Thánh Thể, do đó, được cử hành trong bối cảnh phục sinh của Đức Kitô, trong niềm hy vọng vào việc đổi mới tận gốc toàn thể vũ trụ, và trong sự trông chờ Nước Thiên Chúa trị đến. Chúng ta biết rằng các tín hữu tiên khởi vì đã xác tín mạnh mẽ về quyền năng của Thiên Chúa qua sự sống lại của Đức Kitô và sự kiện Chúa Thánh Thần ngự xuống trong ngày lễ Ngũ Tuần, cho nên họ mong đợi cuộc quang lâm sẽ diễn ra vào thời đại của họ. Trong thư gửi tín hữu Côrintô, thánh PhaoLô nói đến Thánh Thể như là bí tích cánh chung, trong đó cộng đoàn tín hữu được nhắc nhở về niềm hy vọng vào sự xuất hiện vinh quang của Đức Kitô: “Thật vậy, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em đã loan truyền Chúa đã chịu chết cho đến khi Ngài lại đến” (1 Cr 11:26). Chính do niềm hy vọng cánh chung này mà các tín hữu tiếp tục “chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2:42). Như thế từ ngàn xưa, Giáo Hội đã có ý thức về bí tích Thánh Thể như lời cảm tạ về công cuộc cứu độ được thực hiện nơi Đức Kitô, được cử hành như một hy lễ chúc tụng Thiên Chúa, Đấng đã làm cho các tín hữu xứng đáng tiền dự vào sự hiệp nhất tương lai của Nước Thiên Chúa.

Ý nghĩa cánh chung của phượng tự Kitô giáo cũng được phản ánh trong hành động tụ họp lại vào các ngày Chúa Nhật để cử hành Thánh Thể. Sự liên kết lễ Vượt Qua với Bữa Tiệc Ly là lý do chính yếu để các tín hữu thời sơ khai cử hành Thánh Thể vào ngày thứ nhất trong tuần, ngày Chúa phục sinh. Bởi vì trong bí tích Thánh Thể, hành vi cứu độ của Thiên Chúa được thể hiện trong Đức Kitô, Đấng đã vượt qua từ sự chết đến sự sống, nên cộng đoàn Kitô hữu có thể thông dự vào sự phục sinh vinh hiển của Người. Trong ý nghĩa đó, các Kitô hữu tiên khởi đã sống hướng về sự viên mãn hồng phúc của Nước Thiên Chúa, như chúng ta đọc thấy trong sách Didache: “Như chiếc bánh bẻ ra tản mác trên các núi đồi và rồi qui tụ nhau lại, và trở nên một, xin cho Giáo hội được qui tụ lại từ mọi nơi trên trái đất vào Nước Thiên Chúa.”  Tài liệu quan trọng này sau đó đã minh nhiên đề cập đến việc dùng từ ngữ Maranatha trong phụng vụ, đó là một lời kinh cánh chung: “Xin ân sủng đến và thế giới này sẽ qua đi! Hoan hô Đức Chúa của Đavít; Amen, lạy Chúa Giêsu xin ngự đến!”   Như vậy, niềm hy vọng cánh chung, nỗi chờ mong ngày Đức Kitô quang lâm có liên quan chặt chẽ với kinh nghiệm về sự hiện diện đích thực của Người trong bí tích Thánh Thể.

Ngày nay, vấn đề đặt ra là liệu có thể và có nên phục hồi chiều kích cánh chung của bí tích Thánh Thể hay không? Trong ngàn năm thứ ba của lịch sử Kitô giáo, làm thế nào đánh giá đầy đủ hơn về Thánh Thể như một bí tích, mà trong đó “Đức Kitô hiện diện như là bánh và rượu của niềm cậy trông,”  và Thánh Thể được cử hành như sự tiên báo cho bữa tiệc thiên quốc? Làm thế nào để việc cử hành Thánh Thể trong viễn tượng cánh chung bao hàm một ý nghĩa chính đáng, vừa soi chiếu cho lối sống của chúng ta trong hiện tại, cũng như hướng chúng ta đến tương lai vĩnh cửu? Làm thế nào để phương cách tiếp cận cánh chung quan với Thánh Thể trở nên nguồn phong phú cho sự suy tư thần học về mọi khía cạnh của niềm hy vọng Kitô giáo, vốn mang các chiều kích nội tại và siêu việt, tiên tri và khải huyền?

Với những câu hỏi như thế, mối tương quan nội tại giữa bí tích Thánh Thể và cánh chung học thực sự là một lãnh vực quan trọng và lý thú. Tuy nhiên, nói chung, chỉ có trào lưu tư tưởng của thế kỷ 20 mới có thể chứng kiến được“sự phục hưng” của học thuyết cánh chung trong thần học Kitô giáo.  Bởi vì có một thời, chiều kích cánh chung của bí tích Thánh Thể đã mờ nhạt trong diễn đàn thần học, mặc dù không bao giờ biến mất hẳn. Nhờ thấm nhập sâu đậm trong Tân Ước và văn chương của các Giáo phụ, chúng ta thấy sắc lệnh về bí tích của Công Đồng Trento có nhắc đến Thánh Thể như “bảo chứng của vinh quang mai sau và hạnh phúc muôn đời.” Thánh Thomas Aquinas cũng mô tả bí tích Thánh Thể như một signum pronosticum, một dấu chỉ biểu thị một biến cố đã qua về cuộc thương khó của Đức Kitô, và nói lên tác động của cuộc khổ nạn của Người nơi chúng ta, đó là ân sủng, báo trước vinh quang Chúa sẽ đến.  Thế nhưng, tại sao đặc tính cánh chung của bí tích Thánh Thể chỉ được phục hồi trong những năm gần đây?

Nhìn lại quá khứ, vì lãng quên bối cảnh Kinh Thánh, nên hầu như trong một thời gian dài, thần học truyền thống và tân kinh viện chỉ chú trọng đặc biệt đến các giáo lý về hy tế và sự hiện diện thực sự của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể, mà bỏ qua chiều kích cánh chung. Do đó, đề tài cánh chung được coi như phần phụ lục của thần học tín lý, và vì thế   không thể phát huy chức năng soi chiếu các thực tại khác của đức tin Kitô giáo. Theo cách hiểu thông thường, thì cánh chung học là bộ môn thần học về những thực tại cuối cùng, thuộc hồi chung kết. Cánh chung học được chia làm hai loại. Cánh chung quan cá nhân đề cập đến số phận của mỗi người sau khi chết như sự phán xét, thiên đàng, luyện ngục và hỏa ngục. Cánh chung quan tập thể bàn luận về vận mạng của thế giới và lịch sử nhân loại, như ngày tận thế, sự sống lại chung, thời đại trị vì của Đức Kitô khi Người trở lại, và cuộc thẩm phán chung. Tuy nhiên, có thể nói, phương thức nghiên cứu về cánh chung này chỉ tập chú vào số phận đời đời của mỗi cá nhân và sự tận cùng của lịch sử, hơn là nhấn mạnh đến niềm hy vọng vào sự hoàn kết của những công trình mà Thiên Chúa thực hiện cho con người, thế giới và toàn thể vũ trụ vạn vật, hoặc về tác động sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa qua Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần, nghĩa là bàn luận về sự hiển trị của Triều Đại Thiên Chúa vào thời viên mãn chung cuộc.

Mới đây, kể từ Công Đồng Vatican II, do những biến động văn hóa theo các trào lưu tư tưởng của thế giới và những biến chuyển tận căn trong nhân sinh quan của Giáo Hội, đề tài Nước Thiên Chúa đã trở thành trọng tâm cho những nghiên cứu và thảo luận thần học. Với một cái nhìn toàn diện hơn do việc trở về với cội nguồn Thánh Kinh và Thánh Truyền, thần học đương đại nhận định cánh chung như là một chiều kích bao hàm mọi khía cạnh của đời sống và suy tư Kitô giáo, trong đó mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô là tiêu điểm chính để hiểu được ý nghĩa cánh chung của Thánh Thể.

Hiến chế Lumen Gentium tuyên xưng bí tích Thánh Thể là “nguồn mạch tột đỉnh của đời sống Kitô hữu.”  Điều này dẫn đến việc canh tân phụng vụ, tạo hướng phát triển cho thần học, cũng như góp sức cho sự phục hồi chiều kích cánh chung của bí tích Thánh Thể. Do đó, tự bản chất, bí tích Thánh Thể là dấu chỉ tiên báo “bữa tiệc cánh chung trong Nước Thiên Chúa, công bố sự chết của Đức Kitô cho đến khi Người lại đến.”  Chính nơi bí tích Thánh Thể mà Giáo Hội được mô tả như một đoàn người lữ hành cần được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Đức Kitô, vì họ đang dong duổi trên những nẻo đường trần thế, để “xứng đáng tham dự vào tiệc cưới và vào số những người được Thiên Chúa chúc phúc.”  Như vậy, bí tích Thánh Thể đề xướng một cảm thức hướng dẫn nhân loại vào con đường giải thoát để dự phần vào sự tự do của con cái Thiên Chúa, đồng thời là động lực thúc đẩy tinh thần hy vọng trong mọi thực tại của thế giới hôm nay.

Vì thế, được tràn đầy hy vọng hướng về lịch sử đang tới, như Hiến Chế Phụng Vụ Thánh đã quả quyết: các Kitô hữu cử hành Thánh Thể như là“bí tích tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái, bữa tiệc Vượt Qua. Trong tiệc này, chúng ta nhận được Chúa Kitô làm của ăn, tâm hồn chúng ta được tràn đầy ân sủng, và được bảo đảm cho vinh quang tương lai.”  Trong phần mở đầu, Hiến chế Mục Vụ, Gaudium et Spes, cũng đề cao sự thay đổi tư duy và những hiểu biết của Giáo Hội về vị trí của lịch sử:

Niềm vui và hy vọng, nỗi ưu phiền, hệ lụy và thống khổ của con người trong thời đại của chúng ta hiện nay, đặc biệt là những người nghèo hoặc những ai, một cách nào đó, đang phải chịu đau khổ, thì đó cũng chính là niềm vui và hy vọng, nỗi ưu phiền, hệ lụy và thống khổ của các môn đệ Chúa Kitô: không có gì liên quan thật sự đến nhân loại mà không gây âm hưởng trong tâm hồn của họ.

Như thế cộng đồng Kitô hữu được mời gọi hợp tác với Đức Kitô qua quyền năng của Chúa Thánh Thần trong công trình kiện toàn thế giới, như lời khẳng định của Giáo Hội:

Chúa đã để lại cho những kẻ tin theo Người một bảo chứng cho niềm hy vọng đó, và lương thực cho cuộc hành trình trong bí tích đức tin. Nơi bí tích ấy, những thành tố thiên nhiên, những thành quả do sức lao động canh tác của con người, được biến đổi thành Mình và Máu vinh hiển của Đức Kitô, để trở nên như bữa tiệc hiệp thông trong tình huynh đệ, và như là một sự nếm hưởng trước bữa tiệc trên trời.  

Trong bối cảnh này, bí tích Thánh Thể là biểu tượng cho sự viên thành cánh chung của Nước Thiên Chúa. Sống, làm việc và chờ đợi trong niềm hy vọng vào tương lai toàn phúc là mong ước rằng: “Ở đó, cùng với muôn loài thọ tạo đã được giải thoát khỏi tình trạng hư nát vì tội lỗi và sự chết, chúng con sẽ được tôn vinh Cha,” theo lời cầu của Kinh nguyện Thánh Thể, và được hiệp nhất với Đức Kitô, Đấng đã “sai Chúa Thánh Thần đến với các tín hữu như ân huệ mở đầu, để Chúa Thánh Thần kiện toàn sự nghiệp của Người nơi trần gian và hoàn tất công trình thánh hoá loài người.”  Do đó, sự biến đổi Thánh Thể mang ý nghĩa cánh chung, hàm chứa mọi yếu tố của thiên nhiên và văn hóa, liên quan đến toàn thế giới tạo thành. Để đào sâu đặc tính cánh chung này, sách Giáo lý Công giáo cũng nhắc đến bí tích Thánh Thể như là “sự báo trước của vinh quang trời cao” và là “dấu chỉ của niềm cậy trông vào Trời mới và Đất mới”  Qua bí tích Thánh Thể, toàn thể vũ trụ cùng thông dự trước vào sự hoàn tất của hồng ân cánh chung.

Là bí tích của niềm hy vọng cánh chung, Thánh Thể là biểu tượng thánh thiêng mang tầm quan trọng sống còn cho cộng đoàn Kitô hữu và cho thế giới hôm nay. Thánh Thể là dấu hiệu của Nước Thiên Chúa đang đến, giúp cho nhận thức Kitô giáo hướng về sự biến đổi đã được hứa ban cho tất cả tạo thành. Vì vậy cử hành Thánh Thể là vượt qua bên kia trần thế cho hy vọng khai mở vào tương lai và xác tín rằng cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô đã tạo ra sự khác biệt rõ ràng, đó là đưa mọi tạo vật đến tình trạng viên mãn trong Thiên Chúa. Điều này thiết tưởng chúng ta có thể đọc thấy trong Tông Thư mới đây nhất của Đức Gioan Phaolô II, Ecclesia de Eucharistica:

Bí tích Thánh Thể là hướng đến điểm chung kết, tiền dự niềm sung mãn mà Chúa Kitô đã hứa (Ga 15:11). Bí tích Thánh Thể, theo một nghĩa nào đó, là nếm trước hương vị thiên đàng Nước Trời, “bảo đảm cho vinh quang sẽ tới”. Trong Thánh Thể, tất cả đều diễn tả sự chờ đợi đầy tin tưởng này: “Chúng tôi mong ước niềm hạnh phúc mà Chúa hứa và sự quang lâm của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng tôi.” Ai nuôi mình bằng Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể không cần đợi chờ một thế giới bên kia để nhận lãnh sự sống đời đời, họ đã chiếm hữu sự sống ấy ngay từ đời này, như hoa quả đầu mùa của sự sung mãn sẽ tới, liên hệ đến toàn thể nhân loại. Thật vậy, trong bí tích Thánh Thể, chúng ta cũng nhận được sự bảo đảm viề việc thân xác sống lại trong ngày sau hết: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, người ấy sẽ sống đới đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6:54). Bảo đảm ấy về sự phục sinh trong tương lai đến từ sự kiện là thịt của Con Người, được trao ban làm của ăn, là thân xác vinh quang của Đấng Phục Sinh. Có thể nói, với bí tích Thánh Thể, người ta như nắm được “bí quyết” của sự phục sinh. 

Là bí tích của Nước Thiên Chúa, tuy đã khởi đầu trong Đức Kitô, nhưng chưa thành tựu trọn vẹn, nên tự bản chất Thánh Thể mang đặc tính cánh chung. Điều mà cộng đoàn Kitô hữu cử hành trên trần gian này chính là sự tiền dự vào bàn tiệc thiên quốc, nghĩa là vào ngày Hội Ngộ Chung Cuộc của mọi thế hệ trên Núi Thánh của Thiên Chúa (Is 25:6; Dt 12:18; 22:24; Mt 22:2-14; Ga 6:51,54). Câu tung hô trong phụng vụ: “Chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết, và tuyên xưng Chúa đã sống lại, cho tới khi Chúa lại đến,” hoặc “Chúng con đợi chờ ngày Chúa lại đến” và câu đáp của cộng đoàn sau Kinh lạy Cha:“ Vì Chúa là Vua uy quyền và vinh hiển muôn đời,” đều diễn tả lực đẩy cánh chung của việc cử hành Thánh Thể. Như thế bí tích Thánh Thể phản ánh bữa tiệc Thiên Quốc, và đó là “một góc trời mở ra trên trần gian! Chính là một tia vinh quang của thành Giêrusalem thiên quốc, đang xuyên qua những lớp mây của lịch sử chúng ta và rọi sáng con đường chúng ta đi.”  Thật vậy trong khi cử hành bí tích Thánh Thể, toàn thể cuộc sống Kitô hữu được biểu lộ qua mọi chiều kích của thời gian: – tưởng niệm cái chết của Đức Kitô đã xảy ra trong quá khứ, - cảm nghiệm về quyền năng sống lại của Người trong hiện tại, - và vui mừng hy vọng vào vinh quang tương lai của Nước Thiên Chúa. Việc hiểu biết chiều kích cánh chung của bí tích Thánh Thể như thế không chỉ dẫn cộng đoàn Kitô hữu đến sự mong chờ “Trời mới và Đất mới” (Kh 21:1), mà còn làm gia tăng ý thức trách nhiệm đối với thế giới này. Ở đây bí tích Thánh Thể báo trước niềm vui sẽ đến của Nước Thiên Chúa, Nước của Công Lý, Hòa Bình và Tự Do. Một lần nữa, thông điệp Ecclesia de Eucharistica nêu rõ ý hướng này, với những lời rất xúc tích và cô đọng:

Những vấn đề làm đen tối chân trời hiện tại của chúng ta rất nhiều. Chỉ cần nghĩ đến việc gấp rút phải hoạt động cho hòa bình, phải gấp rút đặt những cột móc vững chắc về phương diện công bằng và liên đới trong những mối liên hệ giữa các dân tộc, phải bênh vực sự sống của con người, từ lúc thụ thai, đến lúc chết một cách tự nhiên. Và phải n1i gì đến hàng ngàn những mâu thuẫn trong một thế giới “toàn cầu hóa”, trong đó, những người yếu kém nhất, những người nhỏ bé nhất và những người nghèo nhất hình như không còn gì để hy vọng? Chính trong thế giới đó, phải làm sao cho niềm hy vọng Kitô giáo bừng sáng lên trở lại! Cũng chính vì thế mà Chúa đã muốn ở lại với chúng ta trong bí tích Thánh Thể, ghi khắc vào sự hiện diện của hy tế và bữa ăn của Người. Thật là ý nghĩa, nơi mà các sách Tin Mừng nhất lãm chỉ tường thuật việc thiết lập bí tích Thánh Thể, Tin Mừng Gioan đưa ra trình thuật việc Chúa “rửa chân” để minh họa ý nghĩa thâm sâu của việc ấy, qua đó Chúa Giêsu làm thầy dạy hiệp thông và phục vụ (Ga 13:1-20)… Công bố cái chết của Chúa “cho tới khi Người lại đến” (1Cr 11:26) đòi buộc những ai tham dự vào Tiệc Thánh Thể cương quyết dấn thân biến đổi cuộc sống, để một cách nào đó cuộc sống ấy hoàn toàn trở thành “Thánh Thể”. Chính hoa quả của sự biến hình cuộc sống và sự dấn thân biến đổi thế giới theo đường lối Tin Mừng, làm rạng sáng chiều kích cánh chung của việc cử hành Thánh Thể và của tất cả đời sống Kitô giáo: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến! (Kh 22:20)
 
Như thế, mỗi lần cử hành cuộc tưởng niệm mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, bí tích Thánh Thể thể hiện tính chất cánh chung của niềm hy vọng về Nước Thiên Chúa cho toàn thể thế giới. Và khi những người Kitô hữu cử hành niềm hy vọng theo thể thức này, thì theo Tony Kelly nhận định: “họ không đi vào sự suy gẫm riêng tư, hoặc gặp gỡ nhau để bàn luận triết lý về sự sống mai sau. Nhưng họ ăn uống, hưởng nếm, hít thở và chia sẻ sự hiện diện thật sự của một tương lai huy hoàng mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho họ trong Đức Kitô.”  Nói cách khác, trong bối cảnh của bữa tiệc Vượt Qua, Thánh Thể cử hành và ôm trọn vẹn thái độ hy vọng của con người, đó là sự vượt qua của thế giới để đi vào tạo thành mới.  Vì là dấu chỉ của một tương lai sẽ được tỏ hiện, nên bí tích Thánh Thể chính là biến cố trung tâm và nền tảng cho bất cứ sự thảo luận nào về hy vọng. Bí tích Thánh Thể vừa là tiếng nói hy vọng vừa là sự tham dự vào bàn tiệc cánh chung của Nước Thiên Chúa, để dẫn đưa cả thế giới đến với tương lai vĩnh phúc. Nhờ việc cử hành Thánh Thể mà chúng ta có thể trực nghiệm về chiều kích của thời gian. Khi đưa việc tưởng niệm quá khứ và sự dự báo tương lai đi vào trong hiện tại, bí tích Thánh Thể quy tụ tất cả những gì Chúa Kitô muốn thực hiện, nghĩa là, cho NướcThiên Chúa trị đến. Vì vậy, bí tích Thánh Thể đưa cộng đoàn Kitô hữu tiếp cận với vinh quang mai sau, và đem lại ý nghĩa hy vọng cho số phận tối hậu của nhân loại, cũng như toàn vũ trụ, trong khi hướng dòng lịch sử đến sự viên mãn tuyệt đối.

Có thể nói rằng toàn bộ dự án khảo sát mối tương quan nội tại giữa bí tích Thánh Thể với giáo lý cánh chung là một sự dẫn nhập rất thích hợp và cần thiết cho đường hướng thần học đương thời về Thánh Thể, không những là nhờ sự bừng dậy của tâm thức lịch sử, mà còn do sự tiếp cận sâu rộng của Giáo Hội với các lãnh vực văn hóa, khoa học, chính trị, xã hội và các tiến bộ của thần học. Vì thế mục đích của bài viết này là nhằm khám phá nhu cầu và giá trị đặc biệt của việc phục hồi chiều kích cánh chung của bí tích Thánh Thể. Như được diễn tả trong các Kinh Nguyện Thánh Thể, đặc tính cánh chung thấm nhập tất cả việc cử hành phụng vụ, đó là một sự tiên báo dưới hình thái bí tích về vinh quang tương lai, là niềm hy vọng kiên định của cộng đoàn Kitô hữu. Bí tích Thánh Thể, theo tư tưởng của Alexander Schmemann, là sự căng hướng của Giáo Hội về “quê hương trên trời” (statu patriae).  Bởi vậy, trong khi tìm kiếm một công trình triển khai thần học hoàn chỉnh hơn về Thánh Thể như là bí tích của niềm hy vọng Kitô giáo, ở đây chúng ta cố gắng trình bày một sự tổng hợp toàn diện và mạch lạc về thần học Thánh Thể trong chiều hướng cánh chung, đồng thời nêu ra các đường hướng nghiên cứu thực tiễn nhằm phong phú hóa cánh chung học mang chiều kích Thánh Thể. Chúng ta sẽ nhận định bốn nội dung chính yếu của việc khảo sát và phục hồi chiều kích cánh chung của bí tích Thánh Thể:

1)    Mẫu thức của niềm hy vọng Thánh Thể như là sự hiệp thông cánh chung
2)    Thánh Thể như là nguồn hy vọng cho các hoạt động hướng về tha nhân và xã hội
3)    Thánh Thể như là quà tặng cánh chung của Thiên Chúa trong Đức Kitô
4)    Cử hành phụng vụ Thánh Thể như là cảnh vực thần linh của Chúa Ba Ngôi.

1. Mẫu thức của niềm hy vọng Thánh Thể như là sự hiệp thông cánh chung:
  “Chúa là tất cả trong mọi sự” (1Cr 15:28)

Việc nhận thức hy vọng vừa là yếu tố cấu thành nên cuộc hiện hữu của con người vừa là nền tảng cơ bản của đức tin Kitô giáo có thể giúp tái tạo mối liên hệ nội tại giữa bí tích Thánh Thể và thần học cánh chung. Như vậy, sẽ có một số câu hỏi được đặt ra theo những khía cạnh nhân học của niềm hy vọng ấy: - Thánh Thể là gì trong tương quan với sự hiểu biết của chúng ta về việc trở nên người hơn trước những nỗ lực đấu tranh cho sự sống, tình yêu và sự thật? Làm thế nào để bí tích cứu độ này có thể hướng dẫn chúng ta ra khỏi sự phòng thủ và cô lập của chủ nghĩa cá nhân, và những nguy hiểm của chủ nghĩa nhị nguyên trong việc thực hiện sự đoàn kết đích thực giữa người sống và người chết, giữa cá nhân và cộng đoàn, giữa nhân loại và vũ trụ? Do đó, phải chăng bí tích Thánh Thể    chứa đựng lời hứa thần linh là cho mọi thụ tạo được bước vào cuộc sống mới trong nhân tính mới mẻ của Đức Kitô?

Bí tích Thánh Thể, tự bản chất, là cuộc cử hành sự sống được chia sẻ với vận mạng chung của nhân loại và toàn thể thụ tạo. Khi bẻ bánh tạ ơn, chúng ta nhận thấy bí tích ấy thể hiện mầu nhiệm của sự tương thuộc bao hàm chiều kích chủ vị, liên vị và vũ trụ của ơn cứu độ. Theo nghĩa cơ bản, bí tích Thánh Thể là dấu chỉ và nguồn mạch hữu hiệu của “sự hiệp thông thánh thiện,” vì những ai đến tham dự việc cử hành Thánh Thể luôn được dẫn đưa vào trong một cộng đoàn. Trong bí tích Thánh Thể, nhiều người hợp thành một Thân Mình của Đức Kitô (1Cr 10:17), như chính Người đưa họ vào sự hiệp nhất với Người, và làm cho tất cả thành một thân thể của thụ tạo mới. Nói cách khác, dự phần vào bí tích cánh chung này có nghĩa là được tháp nhập vào Đức Kitô và được biến đổi trong toàn bộ các tương giao để trở nên chi thể của thân mình Giáo hội của Người. Như thế, sự tập chú vào bí tích Thánh Thể, như là biến cố hiệp thông cánh chung, sẽ cung cấp một điểm dẫn nhập đầy ý nghĩa cho khoa nhân học mới, trong đó niềm hy vọng Kitô giáo có thể đóng góp vào cuộc đối thoại và nghiên cứu hiện nay về một số khía cạnh quan yếu của hữu thể nhân linh.

1.1 Chiều kích chủ vị của hiệp thông cánh chung

Yếu tố đầu tiên của khoa nhân học mới, có thể nói, trong bối cảnh Thánh Thể nẩy sinh từ ý thức về con người sống động như một ngôi vị. Ngôi vị được định nghĩa như một chủ thể nhân linh, một trung tâm ý thức mang tính cá vị, một chủ tri có ý hướng tính và lịch sử tính, có những đặc điểm riêng tư và tiểu sử riêng, căn tính riêng, một người biết người khác và được người khác biết đến, biết yêu và được yêu, hiện hữu như một thực tại tự do, duy nhất và không thể thay thế được. Như vậy chủ thể nhân linh không phải chỉ là con người có thân xác, nhưng còn là thân xác vì thân xác là điều kiện để chúng ta có mặt ở đời, và tham dự vào mọi sinh hoạt nhận thức, tình cảm và các hành động của mình. Con người là môt chủ thể nhân linh, một thực tại hoàn toàn nhập thể trong suốt cả cuộc đời.

Quan niệm này khác biệt hoàn toàn với quan niệm của triết học và thần học truyền thống vốn đưa ra định nghĩa về con người như một phức hợp gồm thân xác và linh hồn, và quan niệm đó đã trở thành hình thức cổ điển của thuyết nhị nguyên, trong đó linh hồn được xem như nguyên lý siêu việt, thường hằng, bất hoại, còn thân xác là ngược lại hoàn toàn. Ở đây chúng ta có thể nói rằng ý nghĩa nhân học mới của niềm hy vọng Thánh Thể thực sự đối nghịch với quan niệm truyền thống về chủ thể nhân linh. Con người vừa là tinh thần nhập thể, đồng thời là thể xác được tinh thần linh hoạt. Thân xác, theo nhận định của Dermot A. Lane, là “chìa khoá mở ra chiều kích chủ vị,” và do đó, “một sự hiểu biết rõ hơn về thân xác sẽ cho chúng ta một sự hiểu biết sâu hơn về tinh thần của con người”  Một tư tưởng tương tự xuất hiện trong tác phẩm của Gustave Martelet, khi ông cho rằng thân xác là “một hành vi diễn tả hoàn toàn mang tính chủ vị” trong một cộng đoàn của các thụ tạo.  Louis-Marie Chauvet đã đưa ra một nhận định rất hợp lý khi nói rằng thân xác là “không gian nguyên thuỷ của mọi nối kết mang tính biểu tượng giữa nội giới và ngoại giới… là cách thức cư ngụ riêng của con người để thế giới xa lạ trở thành nơi chốn thân quen, như là nhà của mình.”  Như thế chủ thể nhân linh xuất hiện như một tự thức nhập thể, và hiện hữu thể lý trong thế giới, như là một con người trọn vẹn trong quan hệ với Thiên Chúa và với tha nhân.

Chiêm ngắm và hiểu biết con người trong chiều hướng phi nhị nguyên này xác nhận niềm hy vọng cánh chung là niềm hy vọng đích thực vào sự sống lại mai sau của mỗi nhân vị một cách trọn vẹn như nhất. Chính trong bối cảnh độc đáo ấy, niềm hy vọng Kitô giáo hiện thực nỗi khát vọng tìm kiếm sự toàn mãn của con người; điều này liên hệ đến cá nhân trong cộng đoàn, cả về phương diện vật chất cũng như tinh thần. Khi niềm hy vọng Kitô giáo hướng về chiến thắng cuối cùng của Thiên Chúa trên tội lỗi, sự dữ, đau khổ, và sự   chết, và ơn cứu độ được thành tựu đầy đủ trên mọi tạo vật, thì niềm hy vọng đó không thể loại trừ chiều kích chủ vị của con người xét như là căn tính phản tỉnh, như là cá vị và như một sự tự biểu lộ qua xác thể. Trong bí tích Thánh Thể, bản thân của Đức Kitô được trao ban như của ăn, cũng chính là thân xác của Đấng Phục Sinh trong vinh hiển, nên các Kitô hữu được nuôi dưỡng bởi “sự sống bất tử nơi thân xác phục sinh của Người.”  Đó là một yếu tố cơ bản của niềm hy vọng cánh chung, nghĩa là sau khi mọi kẻ chết sống lại, thì mỗi người sẽ đạt đến tình trạng viên mãn, thực sự trở nên chính mình, một cá thể hội nhập và hiệp nhất trong một thân xác bất khả hủy diệt.

1.2 Chiều kích liên vị và Giáo hội: biến cố hiệp thông giữa các chủ vị.

Mặc dù nhận định theo ý nghĩa căn tính cá biệt, hiện hữu và tồn tại, mỗi người là một chủ thể độc đáo, duy nhất, một hữu thể siêu việt, tự do, có ý thức và trách nhiệm với đời mình, nhưng tự bản chất, không ai là một hữu thể khép kín, tách khỏi mọi liên hệ với môi trường xung quanh. Đây chính là một sắc thái đầy ý nghĩa khởi phát từ việc chúng ta nhấn mạnh đến chiều kích liên vị và chiều kích Giáo hội của mỗi con người. Tương quan là tính chất cơ bản của mọi hữu thể trong thế giới: một người chỉ thực sự hiện diện với chính mình khi người ấy hiện diện với người khác. Nói cách khác, hiện hữu của con người là lời mời gọi vào một cuộc sống hiệp thông với tha nhân và với mọi thụ tạo, vì con người không phải là một thực thể đã hoàn tất. Không có tha nhân, chúng ta không thể kiện toàn cuộc đời của mình, vì không thể có cái-tôi nếu không có người-khác-tôi. Như thế, một chủ vị cô lập là điều tự nó mâu thuẫn, nghĩa là một chủ thể không có quan hệ, tự mãn, chỉ biết qui về mình hoặc là một cái tôi cô độc thì không thể dung hợp được với kinh nghiệm của con người cũng như của Kitô hữu về niềm hy vọng. Tự bản chất, hy vọng bao hàm ý thức về hiệp thông, như Zizioulas nói: “chủ vị đơn độc là phi chủ vị.”  Ernst Bloch, một triết gia Mác xít về nguyên lý hy vọng, cũng viết: “unus christianus nullus christianus: kitô hữu đơn độc là phi kitô hữu.”  Do đó, một chủ vị thực sự sống động phải được hình thành qua những tương giao, tương ngộ với người khác.

Theo nhãn quan Kitô giáo, không thể nói tới đời sống con người mà không nói đến hiệp thông. Chính trong chiều kích liên chủ vị này mà chúng ta thấy được ý nghĩa cánh chung của bí tích Thánh Thể. Nếu hiện hữu là cùng hiện hữu trong hiệp thông, thì tất nhiên chúng ta phải ghi nhận là các cá thể không thể sống tách rời nhau trong một thế giới. Gabriel Marcel, một triết gia hiện sinh Kitô giáo, cũng chủ trương rằng, hy vọng luôn có liên quan đến “thân vị” (Thou), nghĩa là đến sự hiệp thông đích thực được thiết lập giữa các chủ vị. Như vậy, là bí tích của niềm hy vọng cộng đồng, Thánh Thể biểu hiện thực tại hiệp thông, và từ đó chúng ta có thể nói về sự hiện diện (esse) của Đức Kitô trong Thánh Thể như là sự đồng hiện diện (ad-esse) với Giáo hội, cho Giáo Hội, vì Giáo Hội, với cộng đoàn đang cử hành bí tích tạ ơn. Đồng thời, Đức Kitô là tấm bánh sự sống “được bẻ ra” cho toàn thể nhân loại, nên bí tích Thánh Thể không chỉ chuyển thông mối tương giao giữa thần linh và nhân linh, do sáng kiến của Thiên Chúa, nhưng là còn biểu đạt tính duy   nhất của mỗi chủ vị hiện hữu trong các mối tương quan với cộng đoàn. Do bản tính xã hội và liên chủ vị mà con người sống thành cộng đoàn. Cái-tôi trở thành cái-tôi như một nhân vị hiện diện trong sự liên đới và thông hiệp với tha nhân, với những con người khác nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống. Từ nhận thức này mà chúng ta cảm nhận được sự gắn bó thâm sâu với toàn thể thế giới như một cộng đoàn hiệp nhất. Teihard de Chardin cũng đã có một cảm nghiệm như thế và giải thích rằng:

Ngay từ khởi đầu việc chuẩn bị Đấng Thiên Sai đến cho tới ngày Quang Lâm, qua cuộc tỏ hiện trong lịch sử của Đức Giêsu và các giai đoạn phát triển của Giáo hội Chúa, một biến cố duy nhất đang được triển khai trong thế giới: đó là mầu nhiệm Nhập Thể được thực hiện trong mỗi cá nhân qua bí tích Thánh Thể.
Mọi hiệp thông trong đời người là hiệp thông duy nhất. Mọi hiệp thông giữa tất cả những người đang sống là hiệp thông duy nhất. Mọi hiệp thông của tất cả thế nhân, trong hiện tại, quá khứ cũng như tương lai, là hiệp thông duy nhất.  

Thế nên, nếu niềm hy vọng Kitô giáo là niềm cậy trông vào Chúa Ba Ngôi, Đấng chủ yếu liên kết với nhau trong sự hiệp thông ngôi vị, thì tất nhiên niềm hy vọng này không phải là niềm hy vọng của các cá nhân biệt lập, nhưng là của toàn thể nhân loại trong một cộng đoàn cùng hợp nhất với nhau bất kể những khác biệt về chủng tộc, ngôn ngữ hoặc truyền thống văn hóa. Chính trong bối cảnh hiệp thông Thánh Thể đó, hy vọng là một thái độ tích cực vượt qua chính mình, mở lòng đến với và đón nhận các cộng đoàn khác nhau, đồng thời tôn trọng sự hiệp nhất trong đa dạng, và nhận thức được chiều kích tương quan của thực tại tối hậu bên kia thế giới. Diarmuid O’Murchu dường như ủng hộ quan điểm tương tự khi dựa vào những phát hiện mới của khoa vật lý lượng tử:

Thiên Chúa chủ yếu là một thiên hướng và một sức mạnh tương tác, và dấu ấn thiên linh nằm trong ước muốn nền tảng về các mối quan hệ thân tình, về sự lệ thuộc lẫn nhau và tương giao với nhau. Vật chất, nhân linh và thần linh hoà điệu với nhau trong bản tính tự nhiên của mình, trong thiên hướng nối kết với nhau và vui hưởng cuộc chung sống lệ thuộc vào nhau. 

Như bánh và rượu trở thành lương thực của Nước Thiên Chúa, thì những người tham dự vào Thánh Thể cũng được hiệp nhất với nhau thành một thân thể, để cùng hướng về một thế giới mới, cùng nhau chia sẻ sự sống trong nhân tính mới mẻ của Đức Kitô, qua tác động biến đổi của Chúa Thánh Thần. Bí tích Thánh Thể do đó có khả năng hình thành và hoàn thiện thân thể của cộng đoàn Kitô hữu. Được tháp nhập vào sự biến hình của mọi thực tại nhân linh và vũ trụ trong Đức Kitô Phục Sinh, người tín hữu được tái sinh trong Người, tìm thấy nơi Người một cộng đoàn nhân loại mới và những cách thức thích hợp để đi vào tình liên đới với tha nhân. Nói cách khác, bí tích Thánh Thể làm cho ngững người tham dự nhận thức được rằng: mình chỉ có thể thánh hoá bản thân và thực hiện toàn mãn đời mình bằng cách vượt ra khỏi sự cô lập của chủ nghĩa cá nhân và khuynh hướng quy ngã để sống như một chi thể trong Thân Mình của Đức Kitô, cũng là Thân Mình của Giáo hội và Thân Mình của Thánh Thể.

1.3 Chiều kích vũ trụ của hiệp thông Thánh Thể

Trong chiều hướng cánh chung của bí tích Thánh Thể, chúng ta không chỉ hiệp thông với tha nhân, nhưng còn là thông hiệp với toàn thể vũ trụ vạn vật. Vì niềm hy vọng Kitô giáo mang chiều kích hoàn vũ, nên sự hoàn kết tương lai của nhân loại không thể tách rời sự biến đổi của tất cả thế giới, nơi mà mọi người, mọi tạo vật gắn bó với nhau trọn cả một đời. Là biến cố của hiệp thông cánh chung, bí tích Thánh Thể cử hành sự hiệp nhất và tình liên đới của loài người với trái đất này cũng như với toàn bộ công trình sáng tạo, như bánh và rượu, vốn là các thực tại trần thế, mà chúng ta dâng lên Chúa để trở thành thực tại thánh thiêng biểu hiện tương lai tối hậu của nhân loại và vũ trụ. Trong ý nghĩa đó, chúng ta nhận biết mầu nhiệm Thánh Thể chính là mầu nhiệm hiệp thông vươn tới mọi thụ tạo.

Chiêm ngắm và cử hành Thánh Thể như vậy, chúng ta có thể hiểu ơn cứu độ như là việc tất cả tạo thành được biến đổi và được gia nhập vào cộng đoàn yêu thương muôn đời của Thiên Chúa. Những khám phá hiện nay của khoa học về vũ trụ cho chúng ta một cái nhìn mới đối với thế giới vạn vật. Chúng ta chỉ là một thành phần trong cái tổng thể của vũ trụ, và tất cả những yếu tố trong vũ trụ cũng là thành phần của chính chúng ta nhờ có những liên hệ hỗ tương với nhau. Không có gì nằm ngoài phạm vi của vũ trụ hiểu như là “Thân Mình của Thiên Chúa,” cội nguồn và hơi thở của mọi hiện hữu. Do nhận thức này mà hiện nay xuất hiện một cách nhìn mới về vũ trụ, được đặt tên là “chuyện sáng thế chung,” và có thể coi như một sự điều chỉnh lại khoa nhân học hiện đại cũng như quan niệm hữu cơ cổ điển. Lịch sử sáng tạo và lịch sử mang chiều kích vũ trụ đều nhấn mạnh đến một nguồn gốc chung và duy nhất cho mọi dạng thức của sự sống trong vũ trụ.  

Dưới ánh sáng của khoa nhân học mới này, cũng như trong phương cách tiếp cận cánh chung với bí tích Thánh Thể, thì niềm hy vọng Kitô giáo khởi phát một khái niệm bao gồm cả vũ trụ, trong đó có sự biến đổi của tất cả tạo thành. Hơn nữa, trong chân trời Thánh Thể thế giới được nhận diện như là Thân Mình Đức Kitô, vì mỗi thụ tạo là “sự biểu hiện của Thiên Chúa, là lời Chúa, là dấu hiệu của Chúa Ba Ngôi, là hiện thể thiên linh.”  Chúng ta không thể coi vũ trụ vật chất đơn thuần là nguồn tài nguyên để con người khai thác, phục vụ nhu cầu của riêng mình. Mỗi thụ tạo, do đó, đều là một hình thức biểu hiện, là huyền tích, và là công trình nghệ thuật của Thiên Chúa Ba Ngôi.
 
Như thế, ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với muôn loài muôn vật “mà không hủy diệt, không tàn phá, không làm biến mất, nhưng phong phú hóa thêm.”  Hệ luận của điều này là vũ trụ vật chất được tín thác cho con người để sử dụng trong sự thận trọng và tinh thần trách nhiệm, tôn trọng, bảo quản, vun trồng và chăm sóc chứ không phá hoại. Theo niềm hy vọng cánh chung, thì tận thế không phải là sự hủy diệt vũ trụ, nhưng là biến đổi và hoàn thiện tất cả để trở nên “Trời Mới và Đất Mới” (Kh 21:1). Chính qua mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Đức Kitô, và nhờ ân sủng của bí tích Thánh Thể, mà tiến trình thần hóa tất cả công trìng sáng tạo đã khởi đầu. Người Kitô hữu đến tham dự Thánh Thể, mang bánh và rượu như là biểu tượng của toàn thể vũ trụ vật chất được Chúa Thánh Thần biến đổi thành Mình và Máu Đức Kitô vũ trụ, Đức Kitô của hoàn vũ. 

2. Thánh Thể như là nguồn hy vọng cho các hoạt động hướng về tha nhân và xã hội.
 
Niềm hy vọng Kitô giáo chủ yếu được biện minh trong thực hành, trong sự dấn thân vào những hoạt động cứu độ thế giới, giải phóng khỏi những áp bức xã hội và vong thân văn hóa. Do đó, việc góp phần xây dựng công lý hoà bình và thăng tiến con người trong lịch sử hiện nay đã trở thành một một thúc bách nội tại của việc cử hành Thánh Thể. Là bí tích của hy vọng, hiệp nhất và hòa giải, Thánh Thể nhắc nhở người Kitô hữu về trách nhiệm và bổn phận đối với xã hội trần thế. Như Gustavo Gutierrez nhận định: “Nếu không có sự cam kết tham gia vào việc chống lại bóc lột và tha hóa, để xây dựng một xã hội đoàn kết và công bằng, thì việc cử hành Thánh Thể chỉ là một hành động trống rỗng, vì thiếu sự dấn thân chân thành của những người tham dự hiến tế tạ ơn.”  Ở đây, chiều kích cánh chung của bí tích Thánh Thể cung cấp một ý nghĩa đầy hiệu lực và sức mạnh thiết thực, không phải chỉ cho cá thể và thực thể liên vị, mà còn cho cả cơ cấu chính trị, hệ thống xã hội mà chúng ta đã tạo ra thành khuôn khổ cho chúng ta. Một nhãn quan hy vọng như thế, thể hiện qua hành động yêu thương tha nhân cách cụ thể, làm sáng tỏ mối liên kết nội tại và năng động giữa việc cử hành hy lễ Thánh Thể và hành động giải thoát.

2.2    Hàm ý xã hội và giải thoát của Thánh Thể: khát vọng công lý.

Câu chuyện trong sách Xuất hành là môt minh họa hùng hồn nhất cho thấy Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta thực thi công lý và giải phóng những kẻ bị áp bức. Chính trong trình thuật này chúng ta đọc được sự kiện giải phóng khỏi kiếp nô lệ, hành trình đi về đất hứa và Giao Ước do Chúa thiết lập trên núi Sinai với Dân Do thái xưa, là những hình ảnh tiên báo cuộc giải phóng toàn thể nhân loại trong bối cảnh Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Tuy nhiên, đây không phải là một thí dụ đơn lẻ về việc Thiên Chúa quan tâm lo lắng cho người nghèo, vì các ngôn sứ cũng đã nói về việc Thiên Chúa phán xét những người chỉ biết lo việc cử hành nghi thức tôn giáo mà không màng tới sự dấn thân tích cực vào công cuộc xây dựng công lý cho xã hội như là đòi hỏi chính yếu của Thiên Chúa đối với dân Người (Is 1:11-17; 58:4-8; Mic 3:1-3; 6:7-11).

Trong Tân Uớc cũng thế, chúng ta thấy bàng bạc các trình thuật nhấn mạnh đến hành động Thiên Chúa cứu độ người nghèo và người bị áp bức. Các sách Tin Mừng mô tả Đức Giêsu, trong sứ vụ công khai của Người, như là Đấng trao ban ơn cứu độ cho loài người, và đặc biệt có lòng trắc ẩn đối với những người sống bên lề xã hội, những người bị bạc đãi, bị áp bức, bị bỏ rơi trong mọi cảnh tang thương. Đối với Người, niềm hy vọng cánh chung là nền tảng cho công bằng xã hội và đạo đức. Người đã đón tiếp những kẻ bị bỏ rơi, bị coi là tội lỗi và cùng đồng bàn với họ, như một dự báo về Nước Thiên Chúa, công bố năm hồng ân giải thoát cho con người (Lc 4:18-19). Vì thế, truyền thống ngôn sứ và cánh chung này cũng đã xuất hiện trong đời sống cũng như sinh hoạt thờ phượng của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi (Cv 2:44-47; 3:13-15; 4:32). Theo chứng từ Kinh Thánh, đức tin Kitô giáo không có hành động là đức tin chết (Gc 2:20), nên một đức tin sống động và chân thật đòi buộc phải có thực hành công lý và yêu thương, và đây là trắc nghiệm cần thiết về những hình thức đích thực của việc tôn thờ Thiên Chúa.

Do đó, thực hành giải phóng là đặc tính nền tảng của bí tích Thánh Thể, đặc tính này có thể được hiểu như là sự hiệp thông cánh chung, vốn mang ba ý nghĩa. Trước tiên, đặc tính ấy liên hệ đến việc giải thoát con người khỏi những hoàn cảnh bị áp bức, tha hoá trong xã hội. Bí tích Thánh Thể biểu hiện và định nghĩa một cộng đồng nhân loại như Thân Mình Đức Kitô, vì bí tích này cử hành chiến thắng của Người trên những đàn áp và chia rẽ oán hờn; đó là chiến thắng của một trật tự mới, mà trong đó các Kitô hữu quy tụ lại với nhau, hiệp nhất với Đức Kitô trong cái chết của Người để cùng trỗi dậy và chia sẻ sự sống phục sinh với Người (Rm 6:4-5). Bí tích Thánh Thể phác họa nên trật tự mới này như là niềm hy vọng cánh chung, hàm chứa một chân trời cởi mở hoàn toàn cho Triều Đại của Thiên Chúa, Triều Đại Công Lý và Hòa Bình. Chính trong bối cảnh của niềm hy vọng Thánh Thể này, sự đáp trả của người Kitô hữu phải là một cuộc sống đầy lòng trắc ẩn, công bằng và yêu thương. Khi người Kitô hữu đến chia sẻ hy lễ Thánh Thể, là nơi đặc biệt để nhận biết sự hiện diện của Thiên Chúa, thì cũng có nghĩa là thách thức lại cách triệt để mọi hình thái bất công, phân biệt chủng tộc, tình trạng phân cách, chia rẽ và thiếu tự do.

Kế đến, chiều kích giải thoát trong bí tích Thánh Thể mời gọi sự biến đổi tận căn của mỗi cá nhân và cộng đoàn Giáo hội, khi người Kitô hữu sống chân thành với sự tự do nội tâm trước mọi thứ giam cầm trong cuộc đời của họ. Bí tích Thánh Thể tạo điều kiện cho chúng ta được tự do thoát khỏi nỗi sợ hãi của đau khổ và sự chết, khỏi sự cô đơn, khỏi ích kỷ và kiêu hãnh, để hình thành một cộng đoàn mà trong đó mọi người có thể chia sẻ sự sống với nhau, đặt của cải làm của chung và tự đặt mình phục vụ người nghèo và kẻ túng thiếu (1 Ga 1:3, 6; 1 Cr 1:9; 2 Cr 9:13; Rm 15:26-27). Vì vậy, khi cử hành Thánh Thể, cộng đoàn Kitô hữu được mời gọi minh chứng cho điều mà Đức Kitô đã hứa cho tương lai thế giới trong cuộc phục sinh vinh hiển của Người.

Hơn nữa, như là bí tích của sự giải thoát Kitô giáo, Thánh Thể còn hàm chứa đạo lý về sự giải thoát khỏi tội lỗi trong mọi chiều kích. Tội lỗi, dù xuất hiện bất cứ nơi nào, đều có ảnh hưởng phá hoại trong thực tại mọi mối tương quan, tạo ra sự đổ vỡ của hiệp thông với Thiên Chúa và với mọi người; do đó tội lỗi là hoàn toàn đối nghịch với mầu nhiệm Thiên Chúa, vốn là mầu nhiệm hiệp thông các ngôi vị. Chính trong ý nghĩa này mà khi thông dự vào Mình và Máu Đức Kitô, các Kitô hữu càng ngày càng được giải thoát khỏi quyền lực của sự dữ. Bí tích Thánh Thể cho họ nhận thấy sự hiện diện của tội lỗi ngay trong tính ích kỷ, ghen ghét, đồng loã với bất công xã hội, đồng thời lôi kéo họ vào một đời sống mới. Như Gutierrez giải thích:

Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta cử hành Thập giá và sự Phục sinh của Đức Kitô, đó là sự Vượt Qua của Người từ cõi chết đến cõi sống, cũng là sự vượt qua của chúng ta từ tội lỗi đến ân sủng. Trong Tin Mừng, Bữa Tiệc Ly được trình bày trong bối cảnh của lễ Vượt Qua Do Thái, vốn cử hành cuộc giải thoát khỏi đất Ai Cập và Giao Uớc trên núi Sinai. Lễ Vượt Qua của Kitô giáo bắt nguồn từ đó và thể hiện trọn vẹn ý nghĩa lễ Vượt Qua của dân Do Thái. Do đó, sự giải thoát khỏi tội lỗi là nguồn gốc cho sự giải thoát chính trị.   

Trong chiều hướng đó, hành động cứu độ và chữa lành của Thiên Chúa trong Đức Kitô là điều mà bí tích Thánh Thể tưởng nhớ và cử hành để chống lại mọi thế lực hủy diệt con người (1 Cr 11:17-24; Jas 2:14). Như vậy, cử hành Thánh Thể là một “thời điểm hoán cải, nghĩa là vượt qua mọi tha hóa, rào cản, và những phân hoá giai cấp trong xã hội, để đích thân trở thành một cộng đoàn cởi mở của yêu thương và hy vọng cho mọi người”  Chính mỗi cuộc cử hành Thánh Thể mang lại cho mọi người kết qủa của tình yêu thần linh tuôn tràn ơn tha thứ và hòa giải; Thánh Thể vừa là một thời điểm của sự thật, vừa là một chuyển động của sự sống và sự tăng trưởng.

Quả thật, khi họp nhau lại để cử hành Hy Lễ Tạ Ơn, cộng đoàn Kitô hữu không thể chia sẻ sự hiệp thông vào đời sống thần linh, nếu không suy nghĩ xem điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với bác ái Kitô giáo trong một thế giới đang thiếu ăn, một thế giới đầy dẫy   bất công, nghèo đói, và áp bức đang diễn ra như những thực tại bi đát. Cử hành cuộc tưởng niệm sự chết của Đức Kitô “cho tới khi Người lại đến” (1 Cr 11:26) có nghĩa là chấp nhận thực hành một lối sống tâm giao hiếu khách của bí tích Thánh Thể, luôn sẵn sàng hiến dâng cuộc đời của mình. Sự thông phần vào Thân Mình của Đức Kitô, do đó, đòi hỏi phải nỗ lực từng ngày để thực thi công lý trong tình yêu. Chính quan điểm cánh chung này của bí tích Thánh Thể bám rễ sâu trong sự “tưởng nhớ Đức Giêsu,” trong những gía trị mà Người đã loan báo và cả quyết sống vì Nước Thiên Chúa. Trong chiều hướng đó, chúng ta cần ghi nhận rằng chứng từ Thánh Thể không chỉ là nhớ lại cuộc đời của Đức Giêsu. Chứng từ ấy còn hướng vào tương lai nội tại của thế giới và chia sẻ tầm nhìn của những gì sẽ đến, tầm nhìn vào nền hòa bình viên mãn của Nước Thiên Chúa, mà qua đó toàn thể tạo thành sẽ được biến đổi và hoàn tất.

2.3    Thánh Thể và sự đói khát của con người về ý nghĩa và mục đích.
 
Bản chất hiện hữu của con người khai mở dưới khía cạnh “đói khát” lại gợi lên cho chúng ta nhiều câu hỏi khác. Khái niệm này có thể áp dụng vào ý nghĩa trọng tâm của bí tích Thánh Thể như là sự đói khát Bánh hằng sống, để nhờ đó mà con người tham dự đầy đủ vào sự hiếu khách của Thiên Chúa. Như vậy, chúng ta phải hiểu thế nào về bí tích Thánh Thể như là Bánh hằng sống? Trong viễn tượng này, chẳng lẽ bí tích Thánh Thể lại không nhắc nhớ chúng ta về trách nhiệm phải giải quyết các nạn đói khát trên thế giới, chẳng hạn như đói khát về tự do và nhân phẩm, đói khát hòa bình và tình thương, về ý nghĩa và mục đích của đời người hay sao?

Bởi vì bí tích Thánh Thể liên kết Bánh hằng sống (Ga 6:31-57) với manna, được Thiên Chúa ban phát cho đoàn người đói khát trong sa mạc (Xh 16:4-35), nên tấm bánh bẻ ra và được chia sẻ trong Thánh Thể giúp cho cộng đoàn Kitô hữu thoáng nhìn thấy được hình dáng của một thế giới mới đang tiến đến. Ở đây bí tích Thánh Thể trở nên dấu chỉ của sự công bình quảng đại, nhờ đó Thiên Chúa mời gọi những kẻ đói nghèo đến với bữa tiệc cánh chung. Ví đói khát là kinh nghiệm phổ biến và thông thường của mọi người, cho nên một đàng, nó vừa nói về việc duy trì sự sống thể lý, nhưng đàng khác, thì nhắc đến cái cảm thức của con người về thân phận bất toàn, mà từ đó phát xuất ý muốn vươn tới cuộc sống mới mở ngõ cho hiệp thông và tiến hóa không ngừng. Nói cách khác, đói khát là mong mỏi điều “chưa có” trở thành hiện thực và do đó thuộc về lãnh vực của khả thể tính. Dù định nghĩa trên bất cứ bình diện nào, thì phải nói đói khát, tự căn bản, vẫn cho thấy mối tương liên thiết yếu và lệ thuộc lẫn nhau giữa mọi người và mọi thụ tạo.

Nếu đói khát biểu thị sự lệ thuộc của con người vào sự phong phú của thiên nhiên cũng như vào mối liên hệ hỗ tương giữa chúng ta với nhau, thì quả thật bí tích Thánh Thể quan tâm đến nhu cầu tinh thần và vật chất, mà không cho rằng nhu cầu nào quan trọng hơn nhu cầu nào. Bởi vì biểu tượng của bí tích Thánh Thể được lấy ra từ các sinh hoạt bình thường của đời sống: bánh là hoa mầu ruộng đất của lao động và tranh đấu, rượu chất chứa tình anh em và sự cam kết, cho nên Thánh Thể không phải là một thế giới bí tích tách rời khỏi các thực tại xã hội. Truyền thống Kitô giáo khẳng định rằng, trong cuộc cử hành Hy tế Tạ ơn, Đức Kitô làm cho chúng ta nhận ra Người như là Bánh của Thiên Chúa không phải chỉ ở trên bàn thờ nhưng còn “trong sự bẻ bánh nữa” (Lc 24:30, 35). Đây là một hành vi cụ thể biết chia sẻ lương thực hàng ngày với người đói khát, tiếp đón người xa lạ, và trao ban cho họ niềm hy vọng. Như vậy, khi tham dự Thánh Thể, chúng ta tìm thấy sự tương hợp tích cực giữa hạnh phúc của con người ở trần gian và ơn cứu độ mai sau trên thiên quốc, giữa niềm hy vọng vào tương lai nội tại của lịch sử thế giới và niềm hy vọng cánh chung vào Nước Thiên Chúa. Bí tích Thánh Thể, do đó, “không thể không chú tâm đến các vấn đề của thế giới, nhất là vấn đề cung cấp thực phẩm đang áp đặt trên nhân loại.”  Chính trong viễn tượng này, chúng ta có thể hiểu bí tích Thánh Thể như của ăn và của uống nuôi dưỡng niềm hy vọng cho thế giới.

Tuy nhiên, chúng ta ghi nhận rằng lương thực không nhất thiết chỉ là phương tiện để sống còn hoặc để còn sống. Trong Tân ước, chẳng hạn việc ngồi đồng bàn với Đức Giêsu, theo một nghĩa rộng lớn hơn, là một biến cố của hòa bình, giải phóng, tin tưởng và hiếu khách, một dấu hiệu giao hòa và dự báo cho bữa tiệc cánh chung trong Nước Thiên Chúa (Lc 14:15; 15:2; MC 2:15-17; Mt 26:29). Có một điều hiển nhiên, tuy không theo sát nghĩa đen, trong việc Đức Giêsu tự xưng mình là Bánh hằng sống (Ga 6:35, 48, 51), mà Thiên Chúa ban xuống vì sự sống trần gian, nghĩa là trở thành lương thực thần linh làm thoả mãn cơn đói khát của nhân loại về ý nghĩa và mục đích của cuộc đời. Như vậy, bí tích Thánh Thể trở nên một thách đố liên tục cho cộng đoàn Kitô hữu trong việc tìm kiếm các tương quan thích hợp với đời sống xã hội, kinh tế và chính trị, để hướng tới một cộng đoàn biết chia sẻ và hòa giải với nhau, nhất là làm sao cho mọi người được mời gọi đến với sự sống sung mãn trong Thiên Chúa.

3. Thánh Thể như là quà tặng cánh chung của Thiên Chúa trong Đức Kitô:

Như thế, nơi bí tích Thánh Thể, trong ý nghĩa nào thì chúng ta có thể nói rằng các Kitô hữu tiền dự vào tương lai và được hưởng nếm trước những điều mà ngày mai sẽ trở thành hiện thực? Ở đây câu trả lời của chúng ta phải được hiểu trong bối cảnh của niềm hy vọng Kitô giáo, trong đó chúng ta được mời gọi tham dự vào kế hoạch mà Thiên Chúa thực hiện trong Đức Kitô để biến đổi toàn thể thụ tạo. Hơn nữa, vì bí tích Thánh Thể đưa chúng ta vào tương quan hiệp thông đã được khai mở trong Đức Kitô, nhưng chỉ thành tựu viên mãn khi Nước Thiên Chúa trị đến, vậy thì làm thế nào để sự mong chờ này trở thành nguồn năng lực mới xây đắp cho cuộc sống trần gian với mọi khía cạnh cụ thể của niềm hy vọng? Chúng ta nhớ rằng bí tích Thánh Thể luôn là quà tặng tự hiến và tự do trao ban của Thiên Chúa, là một khởi xướng hoàn toàn nhưng không cho sự hiệp thông cánh chung của sự sống và tình yêu. Ở đây, khái niệm quà tặng thuần túy, thực tế tương ứng với kinh nghiệm phê phán hiện đại, cũng là căn bản cho những cách thức giúp chúng ta hiểu đúng ý nghĩa hơn về bí tích Thánh Thể như là việc cử hành hy lễ tạ ơn.

3.1    Thánh Thể là quà tặng của tự do:

Quà tặng của tự do gắn liền với Thánh Thể như Thánh Thể gắn liền với Mầu Nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô. Bí tích Thánh Thể là sự cử hành cuộc Vượt Qua mới, trong đó Đức Kitô trao ban chính Người làm quà tặng cho con người để toàn thế giới có thể hướng về “tự do vinh quang của con cái Thiên Chúa” (Rm 8:21; 1 Ga 3:1-3). Bí tích Thánh Thể, xét như là thực tại cứu độ là chính Đức Kitô tự hiến làm quà tặng, cho thấy ý nghĩa đích thực của tình yêu được tự do trao ban: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13:1). Trong nghĩa này, bí tích Thánh Thể diễn tả nhãn quan căn bản của mầu nhiệm ân sủng như một tặng phẩm thần linh được ban phát cách nhưng không. Khi cùng nhau chia sẻ bí tích Thánh Thể, các Kitô hữu cởi mở lòng trí cho quà tặng tự do này trong Đức Kitô. Do đó khi ăn và uống Mình và Máu của Đức Kitô, họ trở nên những con người được tự do thông phần vào đời sống vinh quang của Người. Như lời tung hô của Kinh Nguyện Thánh Thể IV: “Lạy Chúa, nhờ Thập giá và việc Chúa phục sinh, Chúa đã làm cho chúng con được tự do. Chúa là Đấng Cứu Độ trần gian.” Vì thế bí tích Thánh Thể là cuộc cử hành lễ Vượt Qua mới, bao hàm ý nghĩa giải thoát từ bóng tối đến ánh sáng, từ tội lỗi đến tự do. Quả thật, chúng ta biết rằng điều mà cộng đoàn Kitô hữu nhận lãnh nơi bí tích Thánh Thể là ơn thánh hóa và cùng đích của ơn thánh hoá chính là sự sống vĩnh hằng (Rm 6:22).

Trong thực tại ân sủng này, người Kitô hữu hoàn toàn tự do đón nhận Thánh Thể được trao ban cho họ. Đây không phải là điều mà họ được hưởng như một ân thưởng do công đức riêng của mình. Tuy vậy, chính việc đón nhận ân sủng Thánh Thể tăng cường tự do của người Kitô hữu, khiến họ biết tự do cho đi trong các mối quan hệ vô điều kiện với Thiên Chúa và với tha nhân. Quà tặng Thánh Thể, do đó, không giống như một món nợ hoặc một nghĩa vụ phải đáp trả để thỏa mãn sự đổi chác như trong lãnh vực kinh tế. Khi các Kitô hữu cử hành mầu nhiệm phục sinh trong bí tích Thánh Thể, họ tăng trưởng trong đời sống mới của sự tự do mà đức Kitô đã dành lại cho thế giới hay nhân loại. Sự tự do này là khả năng phát triển và tạo ra các điều kiện cần thiết để hướng cuộc sống con người về tương lai, trong đó công trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện trọn vẹn. Nói cách khác, bí tích Thánh Thể vừa là thông dự vào nguồn mạch tự do thần linh vừa là tiền dự vào lời hứa của Thiên Chúa cho tương lai. Có thể nói đây là hồng ân và đồng thời là hành động của Thiên Chúa trong chiều kích hiện sinh của hy vọng, nghĩa là nối kết với chính nỗ lực phát triển của chúng ta trong lịch sử hầu cho Nước Thiên Chúa được hoàn tất.

Nếu tự do là sự hoàn thành chung cuộc của niềm hy vọng và là điều duy nhất cần thiết, bí tích Thánh Thể là quà tặng đáng ngạc nhiên nhất của tự do thiên linh, chứa đựng tất cả mọi quà tặng tự do khác trong mầu nhiệm của Đức Kitô. Các quà tặng này có thể được diễn tả như tự do khỏi cô đơn và cô độc để đi đến giao tiếp và hiệp thông, tự do khỏi đói khát để chia sẻ trong bữa tiệc của Nước Thiên Chúa, tự do khỏi tội lỗi để được cứu độ và hòa giải, tự do để hy vọng vào sự viên mãn của vinh quang mai sau.

3.2 Thánh Thể như việc cử hành tạ ơn

Như đã được triển khai, và trong hoàn cảnh nào chăng nữa, Thánh Thể là bí tích tạ ơn, nơi đó các Kitô hữu tụ họp lại để cử hành và chia sẻ ơn cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Theo tư tưởng phê bình hiện đại, việc trao ban và đón nhận một quà tặng, tự bản chất là hoàn toàn do lòng quảng đại. Do đó, nếu chúng ta không chờ mong một sự đền đáp dưới bất cứ hình thức nào, thì làm sao người Kitô hữu hiểu biết được bí tích Thánh Thể như việc cử hành hy lễ tạ ơn? Vậy thì điều gì thích đáng nhất mà chúng ta có thể thực hiện để cử hành những ân huệ tuyệt hảo toả rạng từ lòng ưu ái độ lượng của Thiên Chúa?

Các Kitô hữu họp nhau để dâng lời cảm tạ, không phải vì cảm nhận mình mang nợ trong quan hệ mặc cả đổi chác, nhưng vì được sống trong một thế giới tràn đầy ân sủng và phúc lành; họ được dự phần trước vào sự hoàn tất của tình yêu Thiên Chúa tự hiến trong lịch sử. Chính bí tích Thánh Thể đã biến đổi cộng đoàn Kitô hữu thành một nhân loại mới của Đức Kitô, để đến phiên mình, họ trở nên bánh cho thế giới, bánh được bẻ ra, trao ban và hưởng dùng. Bí tích Thánh Thể là sự cử hành lễ tạ ơn trong ý nghĩa xác thực rằng ân sủng của Thánh Thể là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa, mà không ai có thể chiếm hữu, bởi vì nó không đơn thuần dừng lại ở hiện tại, nhưng có đặc tính cánh chung, nghĩa là luôn chuyển động về với tương lai.

Ở đây có một nhận định quan trọng: bí tích Thánh Thể không phải là một món quà tự đóng kín, nhưng là tặng phẩm cởi mở tuôn tràn ân phúc cho toàn thể lịch sử và vũ trụ. Như Lời Tiền Tụng Chung tuần IV trong Kinh Nguyện Thánh Thể diễn tả: “Thật ra, Cha không cần chúng con ca tụng, nhưng được tạ ơn Cha là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng con chẳng thêm gì cho Cha, nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.” Đứng trước quà tặng Thánh Thể như thế, không như kiểu trao ban của con người, chúng ta thấy rằng sự trao ban của Thiên Chúa không đòi hỏi một nghĩa vụ nào cho cân xứng, nhưng chỉ biết tuôn đổ sự sống thần linh một cách tự do và rộng lượng, phát xuất từ ước muốn cho đi cách nhưng không. Vậy thì lời đáp trả phù hợp nhất có thể đem lại ý nghĩa cho hành vi chúc tụng và cảm tạ của cộng đoàn Kitô hữu là ước muốn tự nguyện đi vào sự thông hiệp tình yêu giữa các Ngôi Vị Thần Linh, và cùng tham dự việc chia sẻ sự sống đó với tha nhân. Như Kelly giải thích:

Dù hoàn cảnh ra sao chăng nữa, chỉ có Thiên Chúa là khởi nguyên và kết thúc của những gì chúng ta có – và tạ ơn sự thiện hảo của Người là một chiều kích thường xuyên của đức tin, đức cậy, đức mến mà chúng ta tuyên xưng. Mặc dầu Thiên Chúa không cần chúng ta ngợi khen và tạ ơn Người, chúng ta cần trở nên người biết ngợi khen và tạ ơn Thiên Chúa, nếu chúng ta sống trong tự do đích thực và   tinh thần sáng tạo (The Bread of God: Nurturing an Eucharistic Imagination, 75).

Chúng ta có thể nói đây là sự đáp ứng chân thực và tự nhiên nhất trước quà tặng cao cả của bí tích Thánh Thể. Do đó, hành vi cảm tạ của người Kitô hữu là cách thức đi vào đời sống nội tại của Thiên Chúa. Khi tham dự việc tạ ơn và ngợi khen Thiên Chúa, chúng ta được thu hút vào lối sống của Thiên Chúa. Trong ý nghĩa này, quà tặng Thánh Thể gia tăng không ngừng, và một lúc nào đó sẽ vượt qua mọi giới hạn, trở thành bình minh liên tục báo hiệu cho tương lai cánh chung. Vì vậy, quà tặng này không thể chiếm hữu trọn vẹn trong giây phút hiện tại, cũng không thể trả lại cho Thiên Chúa, hoặc thêm gì cho Người, nhưng là chứng từ cho mầu nhiệm tình yêu tự hiến của Đức Kitô, luôn luôn khai mở trước sự ngạc nhiên của con người.

3.3 Thánh Thể như sự chia sẻ hồng ân cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử

Một kết quả quan trọng của tầm nhìn cánh chung về bí tích Thánh Thể là sự chia sẻ có trách nhiệm của các Kitô hữu về hồng ân cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử, dọn đường cho Nước Thiên Chúa trị đến. Nếu hồng ân chỉ được đón nhận khi trao ban, mà không mong nhận lại, thì cũng thế cộng đoàn Kitô hữu được mời gọi trở thành hiện thân của lời hứa về Nước Thiên Chúa mai sau. Bởi vậy, như Wainwright nhận định, Bí tích Thánh Thể,“không thể không bao hàm ý nghĩa truyền giáo, trong mức độ là dấu chỉ của bữa tiệc vĩ đại mà Thiên Chúa sẽ dọn ra... diễn tả sự chiến thắng toàn diện của ý định và mục đích cứu độ của Người.”  Như vậy trong hồng ân Thánh Thể có một dòng chảy mở rộng khả thể tuôn tràn đến mọi người, đặc biệt lôi kéo người Kitô hữu vào nguồn hiệp thông của chứng tá và sứ mạng truyền giáo.

Nơi bí tích Thánh Thể, tình yêu tự hiến của Thiên Chúa tỏ lộ trong tình yêu tự hiến của Đức Kitô, và vì thế, như David Power hình dung: “Tình yêu tự hiến của Đức Kitô tỏ lộ xa hơn nữa khi tình yêu ấy được hiện thân trong Giáo hội nhờ Chúa Thánh Thần, và đến phiên mình Giáo hội trao ban sự sống ấy, tuôn trào tình yêu ấy từ trong lòng mình, để cho những người khác có thể được chia sẻ trong đó. Là những kẻ được lãnh nhận lãnh, các Kitô hữu trở thành người trao ban.”  Do đó, chúng ta không thể nói về tình yêu tự hiến của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể một cách trung thực nếu như hồng ân này không thấm nhập vào đời sống Kitô giáo, trong mọi cách thức diễn tả của tình yêu tự hiến, ngõ hầu trở nên những con người biết tham gia tích cực vào công việc biến đổi thế giới. Nói cách khác, mỗi lần cử hành bí tích Thánh Thể là chúng ta đi sâu vào trong mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh của Đức Kitô. Chính khi tuyên xưng sự tự hiến hoàn toàn tự do của Người, là lúc chúng ta cử hành đời sống tự do của chúng ta, và mặc lấy tính vô vị lợi trong cuộc sống cộng đoàn của Thiên Chúa Ba Ngôi, và nhờ đó mà được thông dự vào tình yêu vị tha của Thiên Chúa. Ý nghĩa Thánh Thể và cánh chung liên kết mật thiết với nhau trong sự tự hiến của Đức Kitô. Tựu trung, chúng ta có thể nói rằng ý nghĩa chính yếu của bí tích Thánh Thể chính là tấm bánh được bẻ ra và được chia sẻ trong niềm hy vọng tiền dự vào tương lai.

Chỉ nguyên hành vi dâng lễ vật và kinh dâng lễ cũng đã nhắc đến các thực tại kinh tế, chính trị và xã hội của thế giới con người và mọi hình thức của sự sống, cho chúng ta có ý thức hơn về mọi tặng vật, mọi thứ trao ban nhằm nuôi dưỡng cuộc đời của chúng ta, cũng như sự thánh thiện và toàn vẹn của tất cả tạo thành. Khi cộng đoàn Kitô hữu tiếp tục “tuyên xưng sự chết của Chúa cho đến khi Ngài lại đến” (1 Cr 11:26), bí tích Thánh Thể ôm lấy các thực tại của kinh nghiệm con người, kể cả sự thiếu tự do và các kinh nghiệm về tha hóa và các vấn đề sinh thái. Trong chiều hướng đó, bí tích Thánh Thể được cử hành trong niềm hy vọng đạt tới tự do tối hậu từ những thực tại cụ thể của đau khổ và sự chết. Niềm hy vọng đích thực, do đó, được học biết từ trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, Đấng ở cùng chúng ta, vì chúng ta, và nhập cuộc với chúng ta trong sự đấu tranh đem lại một thế giới công bằng và yêu thương. Hiểu như vậy, chúng ta mới tìm thấy nơi bí tích Thánh Thể một ý nghĩa sâu sắc cho sứ mạng của Giáo hội trong thế giới hôm nay.

Dù tương lai nhân loại và vũ trụ xảy đến như thế nào, hành động cứu độ của Thiên Chúa sẽ hoàn toàn kiên định với những gì Người đã thực thi trong lịch sử cứu độ qua sứ vụ cụ thể và cuộc Phục sinh của Đức Kitô. Vì lý do này, thế giới lịch sử có tầm quan trọng thật sự, vì thế giới ấy là trung gian cho lòng nhân từ và ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với toàn thể nhân loại theo đường lối bí tích. Do đó, hạ giá lịch sử là hạ giá cánh chung. Bởi lẽ cánh chung không phá huỷ lịch sử, nhưng đưa ra phán xét và giúp lịch sử hoàn tất.  Hơn thế nữa, chúng ta có thể nói rằng lịch sử trần thế không nằm ngoài lịch sử cứu độ; chính nó còn dự báo cho một tương lai đổi mới nữa. Như vậy, cử hành Thánh Thể như là bí tích cánh chung hòa nhập cộng đoàn Kitô hữu vào những giá trị thăng tiến xã hội, của các thành tựu văn hóa và tất cả mọi cách thức khác biệt, mà Chúa Thánh Thần thực hiện trong thế giới. Trong việc cử hành hy tế tạ ơn, “hoa mầu trái đất và lao công của con người” không chỉ nhắc nhở chúng ta về mọi hồng ân tốt lành đã được lãnh nhận một cách nhưng không từ công trình sáng tạo của Thiên Chúa, mà còn là biểu trưng cho khát vọng sâu thẳm của con người về sự đổi mới vạn vật trong tương lai.

4. Cử hành phụng vụ Thánh Thể như là cảnh vực thần linh của Chúa Ba Ngôi:

Bài khảo luận về mối tương quan giữa bí tích Thánh Thể và niềm hy vọng cánh chung còn dẫn chúng ta đến việc nhận biết Thánh Thể là cảnh vực thần linh, là cảnh giới thánh thiêng nơi chúng ta đón nhận mầu nhiệm ban sự sống của Chúa Ba Ngôi. Khi người Kitô hữu quy tụ với nhau để cử hành Thánh Thể, họ hợp thành một cộng đoàn cánh chung, được nối kết trực tiếp với chính sự sống của Thiên Chúa. Đặc biệt chúng ta thấy Kinh Nguyện Thánh Thể gói trọn, trong ngôn từ và cử chỉ, cảm nghiệm về niềm hy vọng Kitô giáo. Vinh tụng ca “Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô, và trong Đức Kitô, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, mọi vinh quang và danh dự đều thuộc về Cha là Thiên Chúa toàn năng đến muôn thuở muôn đời” biểu lộ đường hướng mang chiều kích cánh chung và Chúa Ba Ngôi. Như vậy, toàn việc thờ phượng Thánh Thể trở thành tụ điểm để tiếp nhận và chuyển giao viễn ảnh về một tương lai, nơi đó, mọi sự mọi loài đều phát xuất từ một khởi điểm chung và hướng về một đích điểm chung là Thiên Chúa Ba Ngôi, là cội nguồn và cùng đích của vũ trụ.

Trong bí tích Thánh Thể, do đó người tín hữu được mời gọi liên kết mật thiết với từng Ngôi Vị trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Lời mời gọi này đưa họ đến hiệp thông trong và với sự sống thần linh được gói ghém trong lời nguyện phụng vụ dâng lên Chúa Cha, nhờ Chúa Con là Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần.

Trước tiên, khi chúng ta nguyện cầu với Đức Chúa Cha, là “Đấng Thánh, là Nguồn mạch mọi sự thánh thiện,”  là Đấng “ban sự sống và thánh hoá muôn loài muôn vật,”  là “Đấng duy nhất tốt lành và là nguồn mạch sự sống,” thì bí tích Thánh Thể là tột đỉnh của lời kinh mà Giáo hội cảm tạ “mọi ơn lành cho thế gian” đã được trao ban qua Đức Kitô, cũng như lời ngợi khen về mọi hoạt động tỏ bày “thượng trí và tình thương”  của Thiên Chúa trong lịch sử con người. Trong nghi lễ chúc tụng và tạ ơn này, chúng ta nhận biết Đức Chúa Cha hiện hữu như vị Thiên Chúa của sáng tạo và hoàn tất. Điều Thiên Chúa đã hình thành lúc khởi nguyên, Người sẽ đưa đến viên mãn toàn vẹn vào thời cánh chung, vì mục đích của Thiên Chúa là đổ đầy trên “toàn thế giới muôn phúc lộc chan hòa.”  Theo ý nghĩa đó, bí tích Thánh Thể diễn tả ơn gọi của mọi thụ tạo là làm vinh danh Thiên Chúa, nghĩa là tham dự vào bài ca tung hô của toàn thể vũ trụ: “Thánh, Thánh, Thánh”. Do đó, tất cả tạo thành cử hành và ca tụng vinh quang Thiên Chúa qua ngôn ngữ của con người. Như Enrico Mazza nhận định: “Như thế, kinh Sanctus (Thánh, Thánh, Thánh) bày tỏ sự hiệp nhất của phụng vụ thiên quốc với phụng vụ trần thế trong các nghi thức của cộng đoàn tế tự. Trên trần gian này, chúng ta lấy kiểu mẫu của các Thiên Thần và các Thánh mà sử dụng trong việc thờ phượng để tung hô và tôn vinh Thiên Chúa chúng ta; vì thế mà kinh nguyện hiến tế biểu lộ sâu sắc chiều kích cánh chung của bí tích Thánh Thể.”  Quả thật, khi cử hành phụng vụ, các tín hữu tiếp cận với thời đại cánh chung, và nhờ đó họ có thể cảm nghiệm được trở nên một với toàn thể vũ trụ, trở thành tiếng hát thay cho hoàn vũ không ngừng ca tụng Thiên Chúa.

Kế đến, cộng đoàn Kitô hữu cử hành Thánh Thể là để tưởng nhớ mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, bao gồm tất cả cuộc đời, cái chết, sự phục sinh và lên trời vinh hiển của Người. Trong cuộc cử hành hy tế Thánh Thể, Đức Kitô hiện diện đích thực trong tư cách Thượng Tế của Giao Ước Mới, duy nhất thực hiện nghi thức phụng vụ một cách chính đáng, và chính nhờ Người mà Giáo hội thực thi hành động tư tế tương tự. Vì vậy, khi đáp lại lời truyền dạy của Đức Giêsu: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy,” cộng đoàn tín hữu biểu lộ cụ thể lời cảm tạ và sự tôn vinh Thiên Chúa:“Lạy Cha, giờ đây chúng con tưởng nhớ Con Cha đã chịu khổ hình để cứu độ muôn người, đã sống lại diệu huyền và lên trời vinh hiển; đồng thời mong đợi Người lại đến, chúng con dâng lên Cha hy lễ hằng sống và thánh thiện này để tạ ơn Cha.” Nói cách khác, khi người Kitô hữu họp nhau cử hành hy lễ Thánh Thể, thì ý nghĩa của biến cố Đức Kitô trở thành tâm điểm. Chính trong khung cảnh phụng vụ này, họ có thể hưởng nếm trước hương vị của ngày Chúa ngự đến vào thời cánh chung: đó là cảm nhận được gặp gỡ Đức Kitô dưới hình thức bí tích, bởi vì trong phụng vụ cử hành có nghĩa là làm cho điều được cử hành trở nên “hiện diện” giữa cộng đoàn. Mặt khác, vì là cuộc tưởng niệm Đức Kitô, nên bí tích Thánh Thể yêu cầu cộng đoàn Kitô hữu trở thành môi giới để mọi người thực sự cảm nhận được lời mời gọi tiên khởi gia nhập vào Nước Thiên Chúa của Đức Kitô. Bí tích Thánh Thể, do đó, đòi hỏi người tín hữu sống một tương lai vừa ló dạng, nghĩa là sống mầu nhiệm Nước Thiên Chúa ngay trong giây phút hiện tại.

Tất cả những điều ấy diễn ra đều do quyền năng sáng tạo của Chúa Thánh Thần, Đấng ban sự sống. Nếu nói rằng bí tích Thánh Thể minh chứng quyền năng của Đức Kitô đang hoạt động trong lịch sử, thì cũng có nghĩa là nói rằng Chúa Thánh Thần đang hoạt động, bởi vì Đấng Phục Sinh vinh hiển là Đấng-đầy-tràn-Thần-Khí. Vì chỉ có một Thánh Thần của Đức Kitô, nên ở đây, chúng ta có thể ghi nhận chiều kích Kitô học và chiều kích Thánh linh học của bí tích Thánh Thể gắn chặt với nhau. Trong lịch sử cứu độ, cũng như trong biến cố Thánh Thể, các sứ vụ của Đức Kitô và Chúa Thánh Thần bổ túc cho nhau; sứ vụ của Ngôi Vị này bao hàm sứ vụ của Ngôi Vị kia. Như thế, mục đích của kinh Epiclesis, lời khẩn cầu Thánh Linh, là hoàn tất sứ vụ tự hiến của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể. Trong cuộc cử hành phụng vụ, lễ dâng là bánh rượu được thánh hiến và được biến đổi thành thực tại tối hậu: “Chúng con xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này để biến thành Mình và Máu của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.” Chúng ta cũng tha thiết cầu khẩn Chúa Thánh Thần hoạt động để sự hiệp thông Thánh Thể vào Thân Mình Đức Kitô có hiệu quả nơi các tín hữu: “Và khi chúng con được Mình và Máu Con Cha bổ dưỡng, được tràn đầy Thánh Thần của Người, xin cho chúng con trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô.” John H. McKenna mô tả tư tưởng chủ đạo này như sau:

Chúng ta nhận thấy đây là mục đích của bí tích Thánh Thể. Và do đó, công việc nội tâm hóa và thần hóa là nhiệm vụ chính đáng của Chúa Thánh Thần trong nhiệm tích Thánh Thể. Ngài đến không phải chỉ để “thánh linh hóa” bánh và rượu, bằng cách làm cho Mình và Máu Thánh hiển vinh của Đức Kitô thực sự hiện diện trong đó. Hơn thế nữa, Chúa Thánh Thần còn “thánh linh hóa” những người tham dự vào tấm bánh và chén rượu này để làm cho Đấng Phục Sinh cũng hiện diện trong họ. 

Theo nghĩa này, chúng ta có thể nói bản chất của bí tích Thánh Thể là biến cố hiệp thông. Mục đích của bí tích Thánh Thể chính là thần linh hóa cộng đoàn Kitô hữu, nghĩa là vừa đưa cộng đoàn tín hữu vào sự hiệp thông với Chúa Ba Ngôi, đồng thời vừa làm cho họ hiệp thông với nhau. Khi được thánh hóa và biến đổi bởi tác động của Chúa Thánh Thần trong Thân Mình Đức Kitô, cộng đoàn Kitô hữu làm chứng cho vinh quang Thiên Chúa, và được tái tạo thực sự trong sự sống thần linh của Ba Ngôi chí thánh. Qua tình yêu tự hiến của Đức Kitô và nhờ quyền năng sáng tạo của Chúa Thánh Thần, cộng đoàn Kitô hữu được nhận biết Chúa Cha, được thần linh hóa, và được lôi cuốn vào biến cố cứu độ của Ba Ngôi Thiên Chúa. Bí tích Thánh Thể do đó mạc khải mầu nhiệm hiệp thông của Chúa Ba Ngôi. Nói cách khác, bí tích Thánh Thể tập trung vào vinh quang của Chúa Ba Ngôi, được hiển thị qua cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, cũng như chứa đựng lời hứa về sự sống mới cho tất cả tạo thành được đi vào cõi vĩnh hằng. Vì là môi trường trao ban sự sống của Chúa Ba Ngôi, nên bí tích Thánh Thể chỉ có thể loan báo cho con người niềm hy vọng hồng phúc mà thôi.

Kết luận

Chúng ta vừa khám phá bản chất cánh chung của Thánh Thể, vừa triển khai các hàm ý của bí tích ấy cho phụng vụ, linh đạo và thực hành đạo đức Kitô giáo, với mục đích để xây dựng một tổng luận có hệ thống về cánh chung quan Thánh Thể. Vì thế, như là cuộc tuởng niệm Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, và như là“lễ bẻ bánh” (Cv 2: 42-46) trong thời Giáo hội sơ khai, bí tích Thánh Thể được cử hành trong bối cảnh của Chúa Phục Sinh hiện diện sống động giữa các môn đệ của Người (Lc 24: 28-35, 36-43; Ga 21: 9-13). Do đó, chia sẻ trong bí tích Thánh Thể là tiền dự vào việc Đức Kitô sẽ ngự đến trong vinh quang và bữa tiệc thiên quốc.

Đối với các Kitô hữu, một dấu chỉ đặc thù của niềm tin là cho thấy mối tương quan giữa Nước Thiên Chúa và sự phục sinh. Cuối cùng, như là sự thông dự vào sự sống toàn phúc của Đấng Phục Sinh, và cùng với sự biến đổi các yếu tố vật chất của bánh và rượu thành Mình và Máu Đức Kitô, nên bí tích Thánh Thể phát biểu các ước mơ và niềm hy vọng mà Đức Kitô đã khai mở về số phận tương lai cho toàn thể nhân loại và vũ trụ. Chính vì bí tích Thánh Thể cho phép và đòi hỏi cộng đoàn các tín hữu sống “thời gian trung gian” giữa trông chờ và hy vọng của thực tại cánh chung, cho nên một cảm thức mới về cuộc hiện hữu trong thế giới như là hiện hữu trong hiệp thông được đề xướng ra, và làm thay đổi toàn bộ chân trời hy vọng của chúng ta. Khi ăn và uống ở bàn tiệc Thánh Thể là chúng ta được hiệp nhất với Đức Kitô, được nuôi dưỡng bởi tình yêu tự hiến và biến đổi của Chúa Ba Ngôi. Việc cử hành hy tế tạ ơn là nơi gặp gỡ như một đặc ân của Chúa Ba Ngôi và cộng đoàn Kitô hữu trong phút giây hiện tại, như một biến cố của lịch sử cứu độ. Dầu vậy, biến cố này mới chỉ là đối tượng của niềm hy vọng, vì ơn cứu độ được thể hiện vào thời gian hiện tại chỉ là khởi đầu hoặc là một dấu chỉ báo trước cho điều sẽ tới. Là huyền thân của Đức Kitô, cộng đoàn Kitô hữu tiến dâng “hoa mầu ruộng đất, lao công của con người,” kết hợp các từ ngữ, dấu chỉ, các nghi thức cử hành lại với nhau để toả sáng những điều chân thật nhất, tốt lành nhất và đẹp đẽ nhất từ sự thánh thiện và tình yêu của Thiên Chúa. Mỗi lời kinh, mỗi hành vi chia sẻ, và cử chỉ cùng ăn cùng uống trong bí tích Thánh Thể đều chan hoà ý nghĩa cánh chung, hướng về ngày lịch sử được hoàn tất   trong sự viên mãn của thời gian.

Như là “nguồn mạch và đỉnh cao” của đời sống Kitô hữu, bí tích Thánh Thể nối kết toàn thể vũ trụ với Đức Kitô, là “Trưởng Tử” của muôn loài thọ sinh và là đích điểm của công trình tạo dựng. Bí tích Thánh Thể liên đới các Kitô hữu với nhau, và thôi thúc họ đi vào sự hiệp thông cánh chung của tất cả cộng đoàn với Thiên Chúa, Đấng ban sự sống vĩnh cửu cho mọi người trong Đức Kitô và Chúa Thánh Thần. Do đó, một nhãn quan mới về tạo thành xuất hiện. Khi tụ họp với nhau ở bàn tiệc Thánh Thể, các Kitô hữu trở nên thành phần của tạo thành mới được đưa vào vũ trụ tình yêu và sự sống của Chúa Ba Ngôi:

Lạy Cha, Cha thật là Đấng Thánh, và muôn vật mà Cha đạ tạo thành đều phải ca ngợi Cha: vì nhờ Đức Giêsu Kitô, Con Cha, Chúa chúng con, và do quyền năng tác động của Chúa Thánh Thần, Cha ban sự sống và thánh hóa muôn loài muôn vật, và không ngừng quy tụ một dân riêng, để từ Đông sang Tây cùng dâng lên Cha một hiến lễ tinh tuyền. 

Qua lời kinh nguyện trên đây của cộng đoàn Kitô hữu, chúng ta dám khẳng định rằng Thiên Chúa đang thực hiện ơn cứu độ muôn đời cho nhân loại, ngay từ bây giờ, qua bí tích Thánh Thể. Nhờ thông phần vào Mình và Máu của Đức Kitô Phục Sinh, các tín hữu được chia sẻ niềm hy vọng sống lại với Người, cũng như được thừa hưởng hạnh phúc thiên thu, vì niềm hy vọng cánh chung biến đổi đời sống con người một cách chân chính nhất và mang lại ý nghĩa cho cuộc hành trình của chúng ta trong lịch sử.

Là Thân Mình của Đức Kitô, cộng đoàn Kitô hữu được mặc khải như một dân tộc cánh chung, vì tự bản chất, đó là một cộng đoàn Thánh Thể, nghĩa là một cộng đoàn cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô qua việc ăn và uống bánh và rượu đã thực sự trở nên lương thực của Nước Thiên Chúa, do đó cuộc sống chính là niềm hy vọng vào lời hứa của Đức Kitô. Bởi vì bí tích Thánh Thể là hồng ân cánh chung của Thiên Chúa, nên chính việc ban tặng hồng ân đó mở ra ngưỡng cửa hy vọng và giúp các tín hữu hình dung một thế giới mới, như được diễn tả trong Kinh Nguyện Thánh Thể II về Hoà giải: “Xin cho muôn người thuộc mọi đoàn thể và tầng lớp, mọi chủng tộc và ngôn ngữ mai sau cũng được quy tụ về dự tiệc trong Nước Cha. Lúc đó chúng con sẽ hân hoan mừng ngày nhân loại được hoàn toàn hiệp nhất trong cảnh thái bình vĩnh cửu, nhờ Đức Kitô, Con Cha.” Hướng lòng về thế giới mới này, các tín hữu cùng nhau tụ họp để tung hô Thiên Chúa, cầu nguyện, và cam kết trong tinh thần của Giao Ước mới; thế nên cử hành Thánh Thể là thể hiện cao cả nhất sự hiệp thông của tình yêu Thiên Chúa, Đấng đã thiết lập cộng đoàn Kitô hữu vào Vương Quốc hằng sống trong Con yêu dấu của Người (Cl 1: 12-13).

Đây là nền tảng vững chắc cho niềm hy vọng Kitô giáo, là hiện thân cánh chung của hồng ân tự hiến mà Đức Kitô trao ban giữa chúng ta vì sự sống trần gian. Sự hiệp thông trong tình yêu bền vững đến muôn đời của Thiên Chúa, được cử hành trong bí tích Thánh Thể, vừa là kinh nghiệm được hưởng nếm trước, vừa là lời hứa hẹn về sự hiệp thông tối hậu của chúng ta với Thiên Chúa. Những thử thách và đau khổ triền miên của chúng ta được đưa vào mầu nhiệm mà chúng ta cử hành, và tất cả những gì là chân, là thiện, là mỹ mà chúng ta thực hiện trong cuộc đời chắc chắn sẽ dự phần trong mầu nhiệm đó. Do đó, được tràn đầy niềm hy vọng vào sự phục sinh của Đức Kitô, Đấng ban cho nhân loại “niềm hy vọng đạt tới vinh quang” (Cl 1:27), cộng đoàn các tín hữu cùng tiến về một thế giới mới, nơi đó “Thiên Chúa sẽ là tất cả trong mọi sự” (1 Cr 15:28). Trong ý nghĩa này, bí tích Thánh Thể là cuộc cử hành phụng vụ căng hướng về tương lai, đặt nền tảng kiên vững cho mọi lập trình đầy hy vọng của người Kitô hữu trong lịch sử, và phác họa một viễn tượng giải thoát có khả năng làm biến đổi đời sống xã hội của con người. Như thế, niềm hy vọng Kitô giáo bao trùm lịch sử và tiến trình thăng tiến vũ trụ; tuy là một đặc ân thần linh tuyệt đối, nhưng niềm hy vọng đó cũng giải thoát con người được tự do hợp tác với Thiên Chúa. Bí tích Thánh Thể cổ võ người Kitô hữu tích cực dấn thân hoạt động cho vinh quang tương lai nơi trần thế với niềm phấn khởi mang tính cách tiền dự và xác tín rằng trong Đức Kitô, nhân loại và tất cả tạo thành được hưởng nếm trước sự sống vĩnh cửu mai sau.

* Nguyễn Trọng Đa và Athanasius Nguyễn Quốc Lâm (chuyển dịch từ bài viết của Paul Vu Chi Hy, “Towards a Constructive Retrieval of the Eschatological Dimension of the Eucharist, Australian Ejournal of Theology, Issue 3, August, 2004).